Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu đường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Chế độ ăn uống cho bệnh nhân tiểu đường


Việc chữa trị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) cần tuân theo 3 phác đồ như sau: Bằng chế độ ăn uống + tập luyện thể dục thể thao (TDTT). Chế độ ăn kết hợp thuốc tiêm insulin + TDTT. Bằng chế độ ăn kết hợp thuốc viên làm hạ glucose huyết + TDTT.
Như vậy, dù chữa trị theo cách nào, chế độ ăn uống vẫn đóng một vai trò quan trọng và cần thiết để chữa trị ĐTĐ. Mục đích là điều chỉnh chứng tăng glucose huyết và glucose niệu, duy trì một thể trạng hợp lý và làm mất các triệu chứng chủ yếu (nhưng vẫn tránh tình trạng hạ glucose huyết dưới mức bình thường).
Các món ăn có ích cho người bệnh ĐTĐ là rau quả, trái cây và thịt, cá, tôm… theo thứ tự ưu tiên như sau:

Rau quả: rau mồng tơi, cải bẹ trắng, rau dền cơm, dưa leo, mướp đắng, rau diếp, củ cải, xà-lách xoong, rau muống, cải bẹ xanh, bầu, bí, cần tây, cà chua. Một số rau quả khác cũng rất có ích cho người bị ĐTĐ như: đậu bắp, rau đay, bông súng, củ sắn nước, đậu hũ, đậu cô-ve, đậu xanh, giá sống, nấm đông cô, mộc nhĩ trắng, cà tím, các loại rau thơm, mè đen, tỏi, hành tây…
Các loại rau trên nên dùng tươi sống, hoặc luộc chín, hấp, nấu canh, hạn chế dùng dưới dạng xào, chiên nhiều dầu mỡ khó tiêu, nướng chín.
Trái cây: một số trái cây tươi, ít ngọt sẽ cung cấp nhiều vitamin C và chất khoáng như: mận, điều, cam, quýt, bưởi, khế, mơ, dưa gang, dưa hấu. Một số có thể dùng nhưng chỉ với số lượng ít như: táo tây (1 trái), nho tươi (2 trái nhỏ), đu đủ chín (1/4 trái nhỏ), dứa (1/2 trái), chuối (1 trái), sa-pô-chê (1/2 trái)…
Không nên ăn trái cây khô, trái cây đóng hộp.
Các chất đạm: chỉ nên dùng thịt nạc (heo, bò, gà), trứng hoặc đậu hũ. Cá sông rất tốt cho người ĐTĐ là: cá lóc, cá rô, cá chạch, cá chốt, cá trê, cá bống, cá thác lác. Một số cá biển như: cá chim, cá thu, cá mực, tôm, cua, nghêu, ốc, hến đều có thể dùng.
Chất béo: nên dùng dầu đậu nành, dầu mè, dầu đậu phụng, dầu ô-liu.
Một vài phương thức trị liệu bổ trợ trong việc điều trị ĐTĐ
Mướp đắng (khổ qua) tươi ngày dùng 150-200gr, nấu canh, ăn sống, xào, làm nộm…
Nếu dùng khô, ngày dùng 12-16gr sắc uống hoặc pha trà uống hằng ngày.
Lá ổi non tươi 100gr, rửa sạch, nấu với 1 lít nước, sắc còn 750ml, chia 3 lần uống trước bữa ăn 1-2 giờ.
Củ cà-rốt tươi 100gr, củ cải tươi 100g, mộc nhĩ đen 20gr. Nấu với 1 lít nước, sắc còn 750ml, chia 2 lần ăn lúc đói bụng.
Hoặc thêm gạo lứt 50gr để nấu cháo, chia thành 2 lần ăn lúc đói bụng.
Dùng lá rau khoai lang 100g, bí đao (bí xanh) 100gr, cà chua 100gr, đậu hũ non 150gr, nấu canh ăn trong bữa cơm.
Có thể dùng vỏ tươi của củ khoai lang trắng, rửa sạch, lấy 50-80gr nấu với 1 lít nước, chia uống trong ngày.
Bột sắn dây (hoặc củ sắn dây thái lát, phơi khô) 30-50gr, gạo lứt 50gr, nấu cháo loãng, chia 2 lần ăn lúc đói bụng.
Mỗi ngày ăn 150gr cà chua xào với thịt heo nạc hoặc đậu hũ, hoặc nấu canh chua, cà chua xào giá đậu hũ, cà chua nhồi thịt heo, cà chua nhồi đậu hũ, mộc nhĩ…
Nếu dùng khô, ngày dùng 30gr bột cà chua hãm với nước sôi, chia 3 lần uống lúc đói bụng.
Bột củ mài (hoài sơn) 50gr, hạt bo bo (ý dĩ) 30gr, nấu thành cháo loãng, chia 2 lần ăn lúc đói bụng.
Dùng vỏ dưa hấu 60gr tươi, vỏ bí đao 30gr, đậu đỏ 30gr, lá sen tươi 50gr. Nấu với 1 lít nước, sôi khoảng 10-15phút, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Rau diếp quắn, tức cây xà lách Đà Lạt, ngày dùng 100-150gr tươi rửa thật sạch, nấu với 1 lít nước, sôi khoảng 10 phút, ăn cả cái lẫn nước trong bữa ăn.
Có thể dùng rau diếp quắn dưới dạng rau tươi hoặc trộn dầu giấm.
Rau cần tây (cần thái) 100-200gr tươi, rửa sạch, trần qua nước sôi rồi giã nhuyễn, vắt lấy nước lọc chia 2 lần uống sau bữa ăn.
Theo thanhnien

Trên tạp chí Lưu trữ những loại bệnh nội khoa (JIM) của Mỹ số ra tháng 12/2009 có đăng tải kết quả 18 nghiên cứu của nhóm chuyên gia ở Viện Y học và Đại học Sydney Australia từ năm 1966 - 2009. Theo các nghiên cứu này thì việc uống cà phê hoặc cà phê khử caffein và chè thường xuyên có thể làm giảm rủi ro mắc bệnh đái tháo đường.
Trong các nghiên cứu trên có 457.922 người tham gia dùng cà phê khử caffein và chè. Kết quả tổng thể cho thấy nhóm người dùng 2 loại đồ uống nói trên có thể giảm được 7% rủi ro mắc bệnh đái tháo đường so với những người không dùng đồ uống này. Kết quả cụ thể ở từng nhóm phụ thuộc vào mức độ cà phê hay chè sử dụng. 

Ví dụ những người uống 3-4 cốc/ngày giảm được 25% rủi ro mắc bệnh so với nhóm dùng từ 1-2 cốc/ngày. Sở dĩ những loại đồ uống này tốt cho cơ thể, hạn chế nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường là do có chứa nhiều hợp chất hữu ích như magiê, các chất chống ôxy hóa như lignas hoặc các loại axít chlorogenic. 
Phát hiện trên mở ra triển vọng mới tìm ra những liệu pháp điều trị bằng ăn uống ở nhóm người có rủi ro mắc bệnh đái tháo đường cao. Ví dụ như bệnh đái tháo đường khi mang thai, nhóm người có tiền sử mắc bệnh... Theo số liệu thống kê thì đến năm 2005 số người mắc bệnh đái tháo đường týp 2 trên thế giới có thể tăng tới 380 triệu người, vì vậy việc phòng bệnh đóng vai trò quan trọng.
NK (Theo Net/SD, 12/2009)

Một số thuốc mới điều trị bệnh đái tháo đường type 2


Khoảng 20 năm trở lại đây, các nhà khoa học đã có nhiều cố gắng phát triển thêm một số loại thuốc mới. Các thuốc này đều nhằm tới hormon incretin GLP-1. GLP-1 được tiết ra bởi tế bào L ở ruột có khả năng điều chỉnh đường máu thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Trong cơ thể người, GLP-1 bị mất tác dụng rất nhanh bởi men DPP-IV. Mọi nỗ lực tạo thuốc mới nhằm vào 2 hướng: ức chế hoạt tính men DPP-IV; và tạo ra chất giống GLP-1 nhưng kéo dài được thời gian tác dụng.

Byetta
Byetta (exenatide = exendin-4) được chiết xuất từ nước bọt một loại thằn lằn độc ở Nam Mỹ có tác dụng giống incretin (GLP 1) do ruột tiết ra tác động đến tụy kích thích tiết insulin, làm giảm tiết glucagon (một hormon do tụy tiết ra làm tăng đường máu), làm chậm hoạt động của ruột. Do đó, byetta làm giảm đường máu và có thể dùng kèm theo các thuốc hạ đường máu khác như nhóm sulfonylurea, nhóm metformin.
Giống như các loại thuốc trị bệnh đái tháo đường trước đây, byetta không chữa khỏi được bệnh đái tháo đường, byetta chỉ tạo thêm một lựa chọn khác cho bệnh nhân khi những thuốc trước đây tỏ ra mất tác dụng. Khi dùng byetta, HbA1c giảm được khoảng 0,5-1%.

Không dùng được byetta trong trường hợp mắc đái tháo đường type 1 (vì tụy không còn tiết insulin nữa); vì byetta thải chủ yếu qua thận nên nếu bệnh nhân suy thận nặng (mức lọc cầu thận dưới 30ml/phút) cũng không được sử dụng loại thuốc này. Ngoài ra, nếu bị mẫn cảm với thuốc hoặc bị bệnh đường ruột nghiêm trọng cũng không thể dùng byetta.
Tác dụng phụ chủ yếu của thuốc là buồn nôn, nôn, đi ngoài gặp tới 30-45% số người dùng. Các tác dụng phụ khác ít gặp hơn bao gồm chóng mặt, đau đầu, yếu cơ, phù, chán ăn, trào ngược dạ dày-thực quản. Một tác dụng phụ khác rất nặng là thuốc byetta có thể gây nên hoại tử tụy cấp.
Byetta được dùng như thế nào?
Tiêm dưới da ngày 2 lần trước bữa ăn sáng và chiều 5mcg/lần ít nhất 60phút trước ăn. Sau một tháng nếu đường máu chưa đạt được mức yêu cầu có thể tăng liều lên gấp đôi (10mcg/lần). Không dùng cho trẻ em. Loại byetta LAR dùng tiêm 1 lần/tuần đang trong quá trình thử nghiệm. Byetta được chính thức sử dụng từ ngày 28/4/2005.
Thuốc ức chế men DPP-IV
Có 2 thuốc đang được lưu hành: sitagliptin được dùng ở cả châu Âu và Mỹ, vildagliptin mới chỉ được dùng ở châu Âu. Cả 2 loại thuốc này đều dùng theo đường uống, có tác dụng ức chế men DPP-IV nên làm tăng lượng GLP-1 có sẵn trong cơ thể. Tác dụng phụ chủ yếu là đau đầu, buồn nôn và nôn. Ngoài ra, thuốc còn có tác động lên hệ miễn dịch tạo thuận lợi cho viêm đường hô hấp trên, viên họng. Không được dùng nhóm thuốc này cho bệnh nhân mắc tiểu đường type 1. Vì là nhóm thuốc rất mới (dùng từ 17/10/2006) nên những tác động dài hạn (cả tốt và xấu) vẫn còn phải được theo dõi thêm.
Đồng phân amylin tổng hợp - pramlintide
Hiện chỉ có duy nhất một thuốc được Mỹ phê chuẩn dùng cho bệnh nhân tiểu đường type 2 – pramlintide.
Khi được tiêm dưới da trước các bữa ăn Pramlintide có tác dụng làm giảm đường máu sau ăn; giảm lượng thức ăn đưa vào khiến bệnh nhân giảm cân. Theo các thử nghiệm, pramlitide làm giảm đường máu mức độ nhẹ khi mà chỉ số HbA1c chỉ giảm được 0,5-0,7%. Cân nặng giảm được 1-1,5kg sau 6 tháng sử dụng.
Pramlintide dùng được cho cả bệnh nhân tiểu đường type 1 và type 2. Tác dụng phụ chủ yếu là đau đầu, chóng mặt, ho và nhất là tác dụng phụ trên đường tiêu hóa gây đau bụng, buồn nôn, nôn. Pramlintide được phê chuẩn sử dụng từ tháng 3/2005. Giá điều trị tối thiểu  từ 189-293,9 USD/tháng.
Tóm lại, các thuốc mới phát hiện gần đây tuy có đem lại thêm một số lựa chọn cho người mắc bệnh tiểu đường type 2. Nhưng thuốc còn quá mới nên các công trình nghiên cứu tác động lâu dài còn thiếu để đánh giá hết tác dụng lợi/hại của thuốc. Mặt khác giá thành điều trị rất đắt và chưa sẵn có ở Việt Nam cũng hạn chế việc sử dụng các loại thuốc này. Hiện tại, các thuốc kinh điển gồm sulphonylurea, metformin, glitazone, insulin là những thuốc mang lại hiệu rất tốt nếu biết dùng đúng cách.

Theo SK&ĐS

Mục tiêu và cách xử trí tiền đái tháo đường


Mục tiêu thay đổi hành vi lối sống được đặt lên hàng đầu vì nó an toàn và hiệu quả trong kiểm soát đường huyết và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Mục tiêu điều trị huyết áp và mỡ máu cũng giống như đối với người bệnh ĐTĐ. Người mắc tiền ĐTĐ nên giảm cân nặng từ 5 đến 10% và về lâu dài nên duy trì mức cân nặng này, sử dụng các chiến lược như tự theo dõi, đặt mục tiêu điều trị khả thi, từng bước một, kiểm soát các tác nhân kích thích.
Cần ăn chế độ ăn giảm cân - giảm nguy cơ đái tháo đường.
Mục tiêu thay đổi hành vi lối sống được đặt lên hàng đầu vì nó an toàn và hiệu quả trong kiểm soát đường huyết và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Mục tiêu điều trị huyết áp và mỡ máu cũng giống như đối với người bệnh ĐTĐ. Người mắc tiền ĐTĐ nên giảm cân nặng từ 5 đến 10% và về lâu dài nên duy trì mức cân nặng này, sử dụng các chiến lược như tự theo dõi, đặt mục tiêu điều trị khả thi, từng bước một, kiểm soát các tác nhân kích thích,

Thông thường, người bị tiền ĐTĐ nên tập thể dục ở mức độ vừa phải khoảng 30 đến 60 phút mỗi ngày, tối thiểu 5 ngày trong tuần. Thực hiện chế độ ăn ít chất béo, chất béo bão hòa và phải đủ chất xơ. Giảm bớt muối và tránh đồ uống có cồn để kiểm soát huyết áp.
Vì FDA chưa duyệt cho dùng bất cứ loại thuốc nào để ngăn ngừa ĐTĐ, bất cứ quyết định dùng thuốc nào để điều trị tiền ĐTĐ đểu phải dựa trên chứng cứ xác đáng và phải cân nhắc lợi - hại. Đối với những người mắc tiền ĐTĐ với các yếu tố nguy cơ cao, có thể cân nhắc dùng thuốc hạ đường huyết kết hợp với điều chỉnh chế độ ăn uống, tập luyện. Các thuốc metformin và acarbose khá an toàn và đã được chứng minh là làm chậm quá trình tiến triển từ tiền ĐTĐ lên ĐTĐ. TZD cũng ngăn ngừa tiền ĐTĐ tiến triển thành ĐTĐ nhưng vẫn còn một số lo ngại khi dùng thuốc này do các vấn đề liên quan tới suy tim do ứ huyết hoặc gây giòn xương.
Mặc dù chưa được FDA chấp thuận, Hiệp hội ĐTĐ Hoa kỳ vẫn đưa ra khuyến cáo metformin là thuốc duy nhất nên được xem xét để sử dụng phòng ĐTĐ. Metformin được khuyến cáo cho người có nguy cơ cao ở cả hai hình thức: tiền ĐTĐ (IGT và IFT), có chỉ số BMI ít nhất từ 25 và người dưới 60 tuổi.
Mỡ máu cũng phải được duy trì ở mức mục tiêu điều trị của người bệnh ĐTĐ. Nhóm statin được khuyên dùng để đạt mục tiêu điều trị: 100 mg/dL đối với LDL, 130mg/dL đối với HDL và 90mg/dL đối với apolipoprotein B. Fibrates, bile acid sequestrants, ezetimibe và một số loại thuốc khác có thể có tác dụng tốt đối với một số bệnh nhân. Niacin có thể làm giảm mỡ máu nhưng có nhiều nguy cơ gây tăng đường huyết.
Người mắc tiền ĐTĐ cũng phải duy trì mức huyết áp như mức mục tiêu được khuyến cáo hiện nay của người bệnh ĐTĐ (huyết áp tâm thu < 130mmHg và tâm trương 80mmHg). Thuốc ức chế men chuyển angiotensin hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin là lựa chọn hàng đầu và thuốc chẹn kênh canxi là lựa chọn thứ hai trong điều trị. Vì tác dụng phụ là hạ đường huyết nên tránh kê thiazides và/hoặc chẹn beta, nếu có thể.
Nên dùng aspirin cho tất cả những người mắc tiền ĐTĐ ít nguy cơ bị các bệnh dạ dày, ruột, xuất huyết não hoặc các loại xuất huyết khác.
Theo dõi tiền ĐTĐ và điều trị?
Người mắc tiền ĐTĐ nên làm xét nghiệm rối loạn dung nạp glucose hàng năm và kiểm tra microalbumin niệu và đường huyết đói, HbA1C, mỡ máu 6 tháng một lần. Bệnh nhân có nguy cơ cao nhất (có nhiều hơn một những yếu tố sau: rối loạn dung nạp glucose, rối loạn đường huyết đói, hoặc hội chứng rối loạn chuyển hóa) cần được theo dõi chặt chẽ hơn.
Phác đồ xử trí tại Việt Nam
Hiện nay chưa có khuyến cáo chính thức, nên theo chúng tôi, căn cứ vào những khuyến cáo tại Mỹ:
Thay đổi lối sống: Vai trò then chốt
- Giảm cân: 5 - 10% cân nặng
- Ăn ít chất béo, chất béo bão hòa, ăn nhiều chất xơ.
- Ăn nhạt.
- Tránh uống đồ cồn.
- Luyện tập thể dục: 30-60 phút/ngày, ít nhất 5 ngày/tuần.
Thuốc hạ đường huyết: metformin (metfamin 8501).
- Dùng khi thay đổi lối sống nhưng đường huyết vẫn nằm ở mức giới hạn cao.
- Mục tiêu: đường huyết <5,6mmol/L.
- Lợi ích: làm chậm tiến triển thành ĐTĐ, chậm biến chứng tim mạch.
- Độ an toàn của thuốc.
Điều trị các yếu tố nguy cơ:
- Điều trị mỡ máu:
LDL < 100mg /dL.
HDL > 130mg /dL.
Apolipoprotein B <90mg/dL.
- Điều trị Huyết áp:
HATT < 130mmHg.
HATTr < 80mmHg.
- Các yếu tố khác.
Theo BV Nội tiết TW